Categories
Hàng Hải Tin Tức

Bộ xét nghiệm Covid-19 “Made in Việt Nam” xuất khẩu sang các nước châu Âu

(HQ Online) – Ông Phan Quốc Việt, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á cho biết, Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh đã cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn châu Âu (CE) và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) cho bộ sản phẩm xét nghiệm Covid-19 do Bộ KH&CN giao Học viện Quân y và Công ty Việt Á phối hợp nghiên cứu, sản xuất.

Sau khi được Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh cấp phép, bộ sản phẩm xét nghiệm Covid-19 của Công ty Việt Á đã được một đối tác đặt mua độc quyền để phân phối tại Anh, Ấn Độ, Mexico, Mỹ và một số quốc gia tại châu Âu.

Trước đó, vào tháng 3, có 20 quốc gia đã đàm phán mua bộ sinh phẩm này. Trước mắt, Việt Á sẽ xuất khẩu sang Iran, Phần Lan, Malaysia, Ukraine. Trong số này Iran đặt 200.000 test (4.000 bộ), Ukraine đặt 15.000 test (300 bộ).

Tại Việt Nam, UBND TP Hà Nội cũng đặt 200.000 test để sử dụng cho nhu cầu của Hà Nội và tặng Italy.

Theo các chuyên gia y tế, hiện chỉ có một phương pháp duy nhất trên thế giới được WHO công nhận là “tiêu chuẩn vàng” để phát hiện SARS-CoV-2 là Real-Time PCR.

Bộ xét nghiệm do Học viện Quân y và Công ty Việt Á phối hợp nghiên cứu và sản xuất cũng sử dụng phương pháp này. Thời gian đầy đủ của quy trình để cho ra kết quả dương tính hay âm tính với SARS-CoV-2 của bộ sinh phẩm do Việt Nam sản xuất là hơn 2 giờ đồng hồ.

Hiện tại, năng lực sản xuất của Việt Á đạt khoảng 10.000 bộ/ngày, khi cần huy động có thể tăng công suất lên 3 lần, hoàn toàn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, hoặc hỗ trợ quốc tế.

Chi phí sản xuất bộ kit xét nghiệm đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ, nên hiện giá chỉ khoảng 400.000-600.000 đồng/test.

Giá thị trường của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ cao hơn gấp 2-3 lần, nhưng chưa sản xuất thương mại ở dạng kit “ready to use”. 1 bộ kit gồm 50 test, dùng 50 lần, theo lý thuyết dùng cho 50 bệnh nhân.

Các tiêu chí độ nhạy, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác 100%, độ lặp lại tại phòng thí nghiệm chuẩn thức của Học viện Quân y và Công ty Việt Á về bộ xét nghiệm này cho thấy, các tiêu chí tương đương các bộ sinh phẩm do CDC Mỹ và WHO hướng dẫn.

Liên quan tới công tác phòng chống dịch Covid-19, sáng 21/4, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương tổ chức họp báo trực tuyến thông báo về diễn biến dịch bệnh Covid-19 ở khu vực, các biện pháp WHO ứng phó cũng như những tình huống mà các quốc gia sẽ phải đối mặt trong tương lai.

Theo thống kê của WHO, Việt Nam đang là quốc gia có tỉ lệ ca mắc Covid-19 trên tổng dân số thấp thứ 2 của khu vực Tây Thái Bình Dương, với tỉ lệ 3 ca bệnh/1000.000 dân.

Về công tác chống dịch Covid-19 của Việt Nam, Giám đốc WHO Tây Thái Bình Dương nhận định, Việt Nam đã đề ra được kế hoạch phù hợp và thực hiện đúng với những gì đã dự đoán trước, trong mỗi giai đoạn.

Tuy nhiên, Giám đốc WHO Tây Thái Bình Dương cũng thẳn thắn đưa ra khuyến cáo rằng, Việt Nam nên cẩn trọng xem xét bắt đầu tháo dỡ hạn chế như thế nào. Không nên là tất cả cùng lúc.

Ông Kasai cho rằng, việc nới lỏng, dỡ bỏ biện pháp giãn cách xã hội cần dựa trên các yếu tố như dữ liệu thực tế về dịch Covid-19, khả năng nhận thức của người dân về dịch bệnh, và khả năng đáp ứng của hệ thống y tế, cũng như khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế.

Đến chiều ngày 21/4, thống kê của Bộ Y tế cho thấy, sau 5 ngày liên tiếp Việt Nam vẫn dừng lại ở 268 ca, số ca bình phục là 216; số ca có kết quả xét nghiệm 1 lần âm tính với SARS-CoV-2 là 12 ca; Số ca có kết quả xét nghiệm 2 lần âm tính với SARS-CoV-2 là 8 ca.

Categories
Hải Quan Hàng Hải Hàng Không

FREE ON BOARD TO DELIVERED DUTY PAID

FOB to DDP

Ngành vận tải biển và đặc biệt là ngành vận tải quốc tế có một danh sách các hướng dẫn đã được Phòng Thương mại Quốc tế phát triển để hỗ trợ trong việc liên lạc giữa các chủ hàng. Những hướng dẫn này được gọi là Incoterms và tham khảo Điều khoản thương mại quốc tế và hoạt động như một bộ quy tắc cho người mua và người bán để tạo thuận lợi cho việc giao hàng hoặc lưu trữ hàng hóa dài hạn.

Free on Board(FOB) là gì?

Free on Board (FOB) là một trong những incoterm rất phổ biến được nhiều người mua sử dụng. Phương thức vận chuyển này đòi hỏi người bán phải chịu trách nhiệm cho tất cả các chi phí vận chuyển cho đến khi hàng hóa được an toàn trên tàu và sẵn sàng ra khơi. Sau khi hàng hóa được lên tàu, người mua chịu trách nhiệm cho phần còn lại của chuyến đi.

Trong hầu hết các trường hợp, có sự chia sẻ đồng đều giữa người bán và người mua về tất cả các chi phí liên quan đến sự chuyển động của hàng hóa. Điều này liên quan đến chi phí vận chuyển, bảo hiểm cho hàng hóa và mọi rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoàn thành lô hàng.

Delivered Duty Paid (DDP) là gì?

Vận chuyển DDP Incoterm là tình huống mà người bán chấp nhận tất cả các chi phí cũng như rủi ro và trách nhiệm đối với việc vận chuyển hàng hóa an toàn từ điểm xuất phát đến điểm đến đã thỏa thuận. Thỏa thuận này bao gồm thanh toán chi phí vận chuyển, thuế xuất khẩu và nhập khẩu, bảo hiểm và bất kỳ chi phí khẩn cấp hoặc liên quan nào khác phát sinh trong khi hàng hóa đi từ điểm này sang điểm khác.

Với DDP Incoterm, người bán chấp nhận trách nhiệm tối đa cho lô hàng. Người bán phải sắp xếp cho tất cả các phương thức vận chuyển trong quá trình vận chuyển bao gồm cả thông quan xuất nhập khẩu, đàm phán và lệ phí nếu có sự chậm trễ và an ninh của hàng hóa thông qua bảo hiểm đầy đủ.

Lợi ích từ FOB đến DDP

Cả hai phương thức vận chuyển FOB và DDP đều phổ biến bởi vì như FOB, chi phí vận chuyển được chia sẻ và điều này có nghĩa là cả người bán và người mua đều chia sẻ chi phí cũng như rủi ro để đảm bảo hàng hóa đến nơi an toàn. Đây có thể là một lựa chọn tốt cho người mua muốn duy trì một số quyền kiểm soát trong quá trình và thậm chí có thể tiết kiệm tiền nếu họ có một mạng lưới vận chuyển theo tùy chọn.

Trong trường hợp của DDP Incoterm, người mua trả tiền cho việc giảm căng thẳng mà người bán có thể cung cấp bằng cách kiểm soát tất cả các khía cạnh của lô hàng. Tương tự như vậy, người bán có thể tiết kiệm tiền bằng cách kết nối và lập kế hoạch tốt, và cuối cùng người mua có thể sẽ trả nhiều hơn một chút vì họ đã từ bỏ trách nhiệm và rủi ro liên quan đến hàng hóa.

Alliance International Logistics có nhiều năm kinh nghiệm và kiến ​​thức làm việc với FOB Incoterm hoặc DDP Incoterm. Chúng tôi chuyên di chuyển hàng hóa của bạn một cách hiệu quả nhất có thể thông qua kế hoạch hậu cần đã được chứng minh và sự theo dõi chuyên nghiệp dự kiến. Liên hệ với chúng tôi ngay hôm nay tại ailglobal.net hoặc Hotline 0906868968 để được tư vấn trực tiếp và tận tình về phương pháp tốt nhất cho lô hàng của bạn.

Categories
Hàng Hải

THỦ TỤC VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI THỰC PHẨM XUẤT KHẨU SANG MỸ

Theo quy định Đạo luật Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Liên bang Hoa Kỳ, các nhà nhập khẩu các sản phẩm thực phẩm dự định đưa vào thương mại liên bang Hoa Kỳ (tất cả thực phẩm nhập khẩu được coi là thương mại giữa các tiểu bang) có trách nhiệm đảm bảo rằng các sản phẩm an toàn, vệ sinh và được dán nhãn theo yêu cầu của Hoa Kỳ.  FDA không được ủy quyền theo luật để phê chuẩn, chứng nhận, cấp phép hoặc xử phạt những nhà nhập khẩu thực phẩm riêng lẻ, sản phẩm, nhãn dán hoặc lô hàng. Các nhà nhập khẩu có thể nhập thực phẩm vào Hoa Kỳ mà không cần sự chấp thuận trước của FDA, miễn là các cơ sở sản xuất, lưu trữ hoặc xử lý các sản phẩm được đăng ký với FDA và thông báo trước về các lô hàng đến được cung cấp cho FDA. 

Để xuất khẩu thực phẩm vào Mỹ, điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải đăng ký với FDA để được cấp mã số cơ sở thực phẩm FFR. 

Các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu phải chịu sự giám sát của FDA khi thực phẩm được nhập vào tại các cảng của Mỹ. FDA có thể tạm giữ các lô hàng nhập khẩu nếu phát hiện các lô hàng không tuân thủ các yêu cầu của Mỹ. Cả thực phẩm nhập khẩu và sản xuất trong nước phải đáp ứng các yêu cầu pháp lý như nhau ở Mỹ.  

Các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm vào Mỹ cần tuân thủ và hiểu rõ các thủ tục và yêu cầu dưới đây: 

1.Tuân thủ quy định yêu cầu đối với từng nhóm/loại thực phẩm  

Nhìn chung hầu hết các sản phẩm thực phẩm đều phải đáp ứng các quy định về ghi nhãn sản phẩm, quy định đối với phụ gia, màu. Tuy nhiên, mỗi loại thực phẩm khác nhau phải đáp ứng những quy định riêng đối với từng nhóm thực phẩm như thức uống, đường và kẹo, thực phẩm đóng hộp, các sản phẩm sữa. Ví dụ như cơ sở thực phẩm đóng hộp có nồng độ a- xít và a- xít thấp thì phải đăng ký số cơ sở thực phẩm đóng hộp (FCE) và quy trình sản xuất đối với từng sản phẩm (SID). Nhà sản xuất cần nắm rõ các quy định đó cũng như tham vấn luật sư chuyên về luật FDA để đảm bảo tuân thủ quy định của FDA. 

2.Thực hiện thông báo trước khi xuất hàng sang Mỹ 

Đạo luật An toàn sức khoẻ cộng đồng và sẵn sàng đối phó với khủng bố sinh học năm 2002 (Đạo luật Bioterrorism) chỉ đạo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thực hiện các bước bổ sung để bảo vệ công chúng khỏi một cuộc tấn công khủng bố bị đe dọa hoặc thực tế vào nguồn cung cấp thực phẩm của Hoa Kỳ và các trường hợp khẩn cấp khác liên quan đến thực phẩm. 

Theo đó, FDA quy định nhà xuất khẩu/nhập khẩu thực phẩm, bao gồm cả thực phẩm cho động vật, nhập khẩu vào Mỹ, kể cả cho tiêu dùng cá nhân, quà tặng phải thông báo trước cho FDA khi nhập khẩu vào Mỹ. Thông báo trước về các lô hàng nhập khẩu cho phép FDA, với sự hỗ trợ của Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP), nhằm mục tiêu kiểm tra thực phẩm nhập khẩu hiệu quả hơn và giúp bảo vệ nguồn cung thực phẩm trước các hành động khủng bố và các tình huống khẩn cấp khác về sức khỏe cộng đồng. 

3.Chương trình an toàn thuỷ sản nhập khẩu (áp dụng đối với sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đi Mỹ) 

FDA chịu trách nhiệm cho sự an toàn của thuỷ sản và sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào Mỹ. Thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ sẽ chịu sự giám sát của FDA. Do đó, các cơ sở thuỷ sản xuất khẩu vào Mỹ cần đặc biệt tuân thủ các quy định của FDA cũng như lưu ý các công cụ giám sát của cơ quan này đối với thuỷ sản. 

4. HACCP 

HACCP là một hệ thống quản lý trong đó an toàn thực phẩm được giải quyết thông qua phân tích và kiểm soát các mối nguy sinh học, hóa học và vật lý từ sản xuất nguyên liệu, mua sắm và xử lý, đến sản xuất, phân phối và tiêu thụ thành phẩm. 

FDA ban hành các hướng dẫn và các yêu cầu áp dụng HACCP khác nhau đối với các nhóm thực phẩm khác nhau như sản phẩm sữa, thuỷ sản, nước trái cây… Doanh nghiệp cần cập nhật các hướng dẫn mới nhất của FDA để đảm bảo tuân thủ các quy định mới nhất của FDA. Chẳng hạn, tháng 9 năm 2019, FDA đã ban hành hướng dẫn mới nhất (phiên bản lần thứ 4) áp dụng đối với thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản, trong đó có hướng dẫn áp dụng quy định giám sát phòng ngừa theo quy định của Luật hiện đại hoá an toàn thực phẩm. Download tài liệu hướng dẫn tại đây. https://www.fda.gov/media/80637/download 

5.Chứng nhận của bên thứ ba 

Chứng nhận của bên thứ ba là một chương trình tự nguyện, trong đó FDA công nhận các cơ quan công nhận (Accrediation bodies) có trách nhiệm công nhận các tổ chức chứng nhận (Certification bodies) của bên thứ ba. Các tổ chức chứng nhận (Certification bodies) của bên thứ ba sẽ thực hiện kiểm toán an toàn thực phẩm và phát hành giấy chứng nhận cơ sở thực phẩm nước ngoài.  

 Các giấy chứng nhận do tổ chức chứng nhận cấp được sử dụng cho hai mục đích: 

  • Các chứng nhận có thể thiết lập điều kiện tham gia Chương trình tự nguyện đăng ký nhà nhập khẩu đủ điều (VQIP), trong đó cung cấp đánh giá nhanh và thông tin về thực phẩm nhập khẩu. 
  • Trong những trường hợp hiếm hoi và cụ thể, FDA có thể yêu cầu một sản phẩm nhập khẩu phải được chứng nhận để ngăn chặn thực phẩm có hại có thể xâm nhập vào Hoa Kỳ.  

6. Chương trình xác minh nhà cung cấp nước ngoài  

Chương trình xác minh nhà cung cấp nước ngoài (FSVP) đối với nhà nhập khẩu thực phẩm cho con người và động vật chính thức trở thành quy tắc sau cùng từ ngày 30 tháng 5 năm 2017.  

Quy định này yêu cầu các nhà nhập khẩu phải xác nhận thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ phải được sản xuất theo cách thức đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ như quy định về giám sát phòng ngừa, quy định về an toàn sản xuất để đảm bảo rằng thực phẩm của nhà cung cấp không bị pha trộn, ghi sai nhãn, phù hợp với ghi nhãn chất gây dị ứng. 

Tuy đối tượng điều chỉnh của chương trình này là nhà nhập khẩu, nhưng gián tiếp tác động đến các doanh nghiệp xuất khẩu và cơ sở sản xuất vì các doanh nghiệp này phải đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của FDA để được nhà nhập khẩu phê duyệt và xác minh là nhà cung cấp phù hợp.  

7. Chương trình nhà nhập khẩu đủ điều kiện tự nguyện (VQIP)

Chương trình nhà nhập khẩu đủ điều kiện tự nguyện (VQIP) là một chương trình tự nguyện dựa trên việc nộp phí dành cho các nhà nhập khẩu tham gia, cung cấp đánh giá nhanh về lô hàng thực phẩm cho người và động vật nhập khẩu vào Hoa Kỳ.  

Nhà nhập khẩu theo quy định này được hiểu là người mang thực phẩm từ nước ngoài vào lãnh thổ hải quan Hoa Kỳ. Nhà nhập khẩu VQIP có thể ở bên ngoài nước Mỹ. Những người có thể là nhà nhập khẩu VQIP bao gồm nhà sản xuất, chủ sở hữu, người nhận hàng và nhà nhập khẩu lô hàng thực phẩm, với điều kiện là nhà nhập khẩu có thể đáp ứng tất cả các tiêu chí để tham gia VQIP. Với định nghĩa này, nhà nhập khẩu tham gia chương trình không chỉ giới hạn ở các nhà nhập khẩu tại Mỹ mà các cơ sở sản xuất có hàng xuất khẩu vào Mỹ cũng có thể đăng ký tham gia chương trình này. 

Việc tham gia chương trình này có thể giúp cho nhà nhập khẩu nhập sản phẩm của họ vào Hoa Kỳ với tốc độ và khả năng dự đoán cao hơn, tránh sự chậm trễ không mong muốn tại điểm nhập khẩu. Người tiêu dùng cũng sẽ được hưởng lợi từ chương trình quản lý mạnh mẽ về sự an toàn và bảo mật của chuỗi cung ứng của nhà nhập khẩu. 

Để tham gia, các nhà nhập khẩu phải đáp ứng các tiêu chí theo quy định của FDA: và trả phí người dùng bao gồm chi phí liên quan đến chương trình quản lý của FDA. 

Categories
Hàng Hải

DỰ THẢO INCOTERMS 2020

1. SỰ BIẾN MẤT CỦA EXW, DDP VÀ FAS TRONG INCOTERMS 2020.

EXW và DDP chủ yếu được sử dụng trong thương mại nội địa. Trong đó, EXW (Ex works – Giao tại Xưởng) được sử dụng bởi các công ty ít có kinh nghiệm xuất khẩu. DDP (Delivered Duty Paid – Giao đã nộp Thuế) được áp dụng cho hàng hóa dùng làm mẫu hoặc phụ tùng. Hàng hóa này được giao đến tay người mua nhờ các công ty chuyển phát nhanh. Hiện nay, hai điều khoản này, trong một số cách sử dụng cụ thể, lại mâu thuẫn với Bộ luật hải quan mới của Châu Âu.

FAS (FREE ALONGSIDE SHIP – GIAO DỌC MẠN TÀU)

FAS hiếm khi được sử dụng trong thực tế. FAS gây khó khăn cho người mua và người bán vì không xác định được thời gian mà tàu cập bến. Đây là một điều hết sức quan trọng vì nếu tàu đến trễ thì hàng hóa của người bán sẽ phải nằm chờ tàu tại bến tàu trong một thời gian. Việc này sẽ gây khó khăn cho hàng hóa tươi sống, khó bảo quản lâu đồng thời tăng chi phí kho bãi cất trữ cho người bán. Mặc khác, nếu tàu đến sớm, người bán sẽ không kịp trở tay trong việc chuẩn bị, sắp xếp hàng hóa lên tàu. Để tránh các vấn đề trên, người ta thường hay sử dụng điều khoản FCA (Free Carrier – Giao cho người chuyên chở) thay cho FAS vì FCA bao quát luôn cả FAS.

2. DDP TRONG INCOTERMS 2020 ĐƯỢC TÁCH THÀNH 2 ĐIỀU KIỆN MỚI.

DDP quy định người bán phải nộp thuế hải quan tại nơi đến, bất kể hàng hóa được giao đến nơi đâu (địa chỉ của người mua, kho hoặc ga đến…). Incoterms 2020 tách DDP ra thành DTP và DPP. Hai điều khoản này vẫn quy định người bán sẽ chịu trách nhiệm nộp thuế hải quan khi hàng hóa được giao đến nơi giao hàng cuối cùng. Nhưng sẽ có sự phân biệt rõ ràng hơn liên quan đến nơi giao hàng cuối cùng.

– DTP (Delivered at Terminal Paid): giao tại điểm tập kết đã thông quan. DTP quy định nơi giao hàng cuối cùng là ga (có thể là cảng biển, cảng hàng không, trung tâm vận tải …).
– DPP (Delivered at Place Paid): giao ngoài điểm tập kết đã thông quan. DPP quy định nơi giao hàng cuối cùng là bất kỳ địa điểm nào khác không phải là ga vận tải.

3. FCA ĐƯỢC MỞ RỘNG HƠN TRONG INCOTERM 2020.

Là một trong những điều khoản được sử dụng nhiều nhất ( đến 40% giao dịch thương mại sử dụng ). FCA có tính linh hoạt về nơi giao hàng (có thể là địa chỉ của người bán, nhà kho, cảng biển hay cảng hàng không…). Nó cũng có tính đa dạng về các phương thức vận tải, đặc biệt rất phù hợp với với vận tải đa phương thức. Do đó,  FCA sắp tới sẽ được ICC “ưu ái” mở rộng thành hai điều kiện. Một dành cho vận tải đường bộ và một dành cho vận tải đường biển.

Bằng việc mở rộng FCA và loại bỏ EXW, nhà xuất khẩu có thể kiểm soát và hiểu rõ các nghĩa vụ và trách nhiệm thông quan xuất khẩu. Người bán chịu trách nhiệm lớn hơn so với EXW và người mua được bảo vệ nhiều hơn trong việc chuyển giao rủi ro.

4. FOB VÀ CFI ĐƯỢC SỬA ĐỔI.

Những người tham gia giao dịch thương mại quốc tế hay quen dùng FOB và CIF để áp dụng cho hàng hóa được vận chuyển bằng container thay vì dùng hai điều kiện đối ứng thích hợp hơn đối với loại hình vận chuyển này là FCA và CIP.

Hiện tại khoảng 80% hàng hóa được giao bằng container nên có khả năng Ủy ban soạn thảo Incoterms 2020 dự định sửa đổi điều kiện FOB và CIF có thể sử dụng cho hàng container như Incoterms 2000 và các ấn bản trước đó.

5. CNI RA ĐỜI TRONG INCOTERMS 2020.

CNI (Cost and Insurance – Tiền hàng và Bảo hiểm) là điều khoản mới gia nhập Incoterms 2020. Điều khoản này đã giải quyết được lỗ hổng giữa FCA và CFR/ CIF, đưa ra một số quy định mới về trách nhiệm và rủi ro giữa người mua và người bán. Cụ thể, các rủi ro và trách nhiệm được chuyển giao từ người bán sang người mua tại cảng đi. Nhưng điều kiện mới này cũng cho phép người bán chịu trách nhiệm bảo hiểm hàng hóa, trong khi người mua thì chịu rủi ro vận chuyển.

và một số thay đổi khác…

Incoterms 2020 sẽ chính thức được ban hành vào cuối năm 2019 và có hiệu lực áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2020 đúng vào dịp kỷ niêm 100 năm ngày thành lập ICC.